Chủ trương di dời các cơ sở sản xuất khỏi nội đô Hà Nội là một bài toán phức tạp, đã được đặt ra từ lâu nhằm tái cấu trúc đô thị và giải quyết các vấn đề môi trường như vụ hỏa hoạn Rạng Đông. Hà Nội đã ban hành Nghị quyết di dời 57 cơ sở, với mục tiêu sử dụng quỹ đất sau di dời cho công trình công cộng và không gian xanh, đồng thời yêu cầu đổi mới công nghệ tại địa điểm mới. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp nhiều thách thức như chi phí lớn, thiếu quỹ đất tiếp nhận, vướng mắc cơ chế đền bù và tâm lý chờ đợi của doanh nghiệp trên "đất vàng". Để di dời thành công và bền vững, các chuyên gia nhấn mạnh cần hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân, và doanh nghiệp thông qua chính sách bồi thường thỏa đáng, cùng với việc giám sát chặt chẽ mục đích sử dụng đất sau di dời.
Theo đánh giá của các chuyên gia, chủ trương di dời các cơ sở sản xuất khỏi khu vực nội đô không phải là một ý tưởng mới, mà là một bài toán phức tạp và đầy thách thức, đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm chính trị ở mức độ cao. Chỉ khi lợi ích của Nhà nước, người dân và cộng đồng doanh nghiệp được hài hòa, tạo nên sự đồng thuận sâu rộng, quá trình di dời mới có thể triển khai một cách thuận lợi và bền vững.
Những chuyển biến tích cực
Dù nhiều năm đã trôi qua, bà Nguyễn Minh (62 tuổi), cư ngụ tại con ngõ nhỏ trên phố Hạ Đình (Hà Nội), vẫn không thể quên vụ hỏa hoạn kinh hoàng tại Nhà máy Phích nước Rạng Đông vào năm 2019.

Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông tại phố Hạ Đình, thuộc danh mục các cơ sở phải di dời trong đợt 1 theo Nghị quyết của HĐND TP Hà Nội.
Theo lời bà Minh, ngọn lửa tuy đã được khống chế sau vài giờ, nhưng nỗi lo lắng về hậu quả lại kéo dài nhiều tháng. Đặc biệt, sau khi phía công ty xác nhận hàng trăm nghìn bóng đèn huỳnh quang bị cháy có chứa thủy ngân lỏng, sự sợ hãi mới thực sự bao trùm.
“Hỏa hoạn có thể dập tắt, song mối bận tâm về sức khỏe lại kéo dài cả năm ròng. Dù nhà máy thuộc diện phải di dời khỏi khu vực nội thành, đến nay vẫn chưa có bất kỳ động thái nào”, bà Minh bày tỏ sự trăn trở.
Ở một góc độ khác, việc di dời không đơn thuần là câu chuyện về rủi ro môi trường. Đối với hàng vạn người lao động, đó còn là nỗi lo lớn về sinh kế, việc làm và tương lai của cả gia đình họ.
Cách Hạ Đình không xa, anh Nguyễn Văn Tuấn, trú tại khu tập thể Cao su Sao Vàng, một cựu công nhân của Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, hồi tưởng lại giai đoạn đơn vị chuẩn bị chuyển dịch từ số 235 Nguyễn Trãi tới Khu công nghiệp Thạch Thất, Quốc Oai (cũ).
“Khi nghe tin di dời, công nhân vừa mừng vì nhà xưởng mới khang trang, sạch sẽ, an toàn hơn; nhưng cũng không khỏi bận tâm về quãng đường đi làm xa, sự xáo trộn trong sinh hoạt và tính ổn định của thu nhập”, anh Tuấn chia sẻ.
Tuy nhiên, thực tiễn sau đó đã mang đến những chuyển biến tích cực. Anh Tuấn cho biết, khi nhà máy mới đi vào vận hành, điều kiện làm việc được cải thiện đáng kể, chế độ phúc lợi cũng tốt hơn. “Việc đi lại có phần vất vả hơn đôi chút, nhưng đổi lại là sự an tâm về lâu dài”, anh Tuấn bộc bạch.
Hành trình di dời còn lắm gian nan
Để hiện thực hóa quyết tâm tái cấu trúc không gian đô thị, Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã ban hành Nghị quyết 487/NQ-HĐND, kèm theo danh mục các cơ sở thuộc diện di dời khỏi khu vực đô thị trung tâm (Giai đoạn 1) do không còn phù hợp với quy hoạch. Theo đó, tổng cộng 57 cơ sở sẽ phải di chuyển, bao gồm 42 cơ sở sản xuất công nghiệp và 15 trụ sở cơ quan, đơn vị.

Mặc dù Nhà máy Thuốc lá Thăng Long đã chuyển về KCN Thạch Thất, các thủ tục bàn giao khu đất tại Nguyễn Trãi vẫn chưa hoàn tất.
Quá trình di dời được đặt ra với yêu cầu phải gắn liền với việc đổi mới công nghệ, tăng cường bảo vệ môi trường, tránh tình trạng “chuyển dịch ô nhiễm” từ khu vực này sang khu vực khác, đồng thời ưu tiên bố trí tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung. Đặc biệt, quỹ đất sau khi di dời sẽ được quản lý và sử dụng theo đúng Luật Thủ đô và các quy hoạch có liên quan, ưu tiên phát triển công trình công cộng, không gian xanh, bảo tồn văn hóa và xây dựng hạ tầng thiết yếu.
Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy quá trình triển khai tại nhiều xã, phường đang đối mặt với không ít vướng mắc. Đơn cử, tại một số địa bàn vừa sáp nhập, hồ sơ liên quan đến các cơ sở thuộc diện di dời chưa được bàn giao đầy đủ, khiến các phường mới chỉ có thể ban hành công văn phối hợp mà chưa thể xây dựng kế hoạch hay phương án cụ thể.
Tại phường Kim Liên, nơi có 3 cơ sở sản xuất nằm trong danh sách di dời (gồm Công ty In Công đoàn Việt Nam, Công ty CP Nhựa y tế Mediplast và Hợp tác xã Độc Lập), bà Lê Thị Kim Huệ, Chủ tịch UBND phường, thông tin rằng đơn vị đang chỉ đạo cán bộ rà soát, tổng hợp thông tin, và hiện tại chưa có phương án triển khai cụ thể nào.
Tương tự, tại xã Phù Đổng – địa phương có số lượng cơ sở sản xuất cần di dời lớn nhất với 12 doanh nghiệp tập trung trên tuyến phố Hà Huy Tập – ông Đào Minh Đức, Chủ tịch UBND xã, cho biết hầu hết các cơ sở này là doanh nghiệp tư nhân và phần lớn đã ngừng hoạt động sản xuất.
“Chủ trương di dời là hoàn toàn đúng đắn, nhưng cần phải có một lộ trình thực hiện phù hợp. Điều tiên quyết là cần điều chỉnh quy hoạch, sau đó mới đến bước chuyển đổi mục đích sử dụng đất và xây dựng các phương án hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm, bố trí địa điểm mới”, ông Đức nhấn mạnh.
Thách thức kéo dài
Kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, nhận định rằng chủ trương di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu vực nội đô không phải là một ý tưởng mới mẻ, mà đã được đề cập từ Quy hoạch chung Thủ đô năm 1998 và tiếp tục được khẳng định trong Quy hoạch chung Hà Nội năm 2011.
“Nghị quyết đã được ban hành, kế hoạch đã được xây dựng, và giới truyền thông cũng không ngừng đưa tin. Tuy nhiên, khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn vẫn là một chặng đường vô cùng gian nan”, ông Ánh nhận định.
Theo KTS Ánh, trong suốt hàng chục năm qua, số lượng cơ sở thực sự di dời vẫn còn rất hạn chế, có thể kể đến như Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, cùng một vài cơ sở sản xuất bia, rượu, trong khi đó, nhiều nhà máy khác vẫn “án binh bất động”.
Nguyên nhân của sự chậm trễ không chỉ đến từ gánh nặng chi phí di dời khổng lồ, sự thiếu hụt quỹ đất tiếp nhận, hay những vướng mắc cố hữu trong cơ chế tài chính, đất đai. Nó còn xuất phát từ tâm lý trì hoãn, chờ đợi “thời điểm vàng”, thậm chí là kỳ vọng chuyển đổi những khu “đất vàng” này sang các mục đích kinh doanh sinh lợi cao hơn.
Ông Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), nhận định rằng thực trạng di dời kéo dài qua nhiều năm đã chứng minh đây là một bài toán vô cùng nan giải, phức tạp, đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm chính trị ở mức độ cao nhất.
Theo ông Tiến, mấu chốt của vấn đề nằm ở cơ chế bồi thường và hỗ trợ. Nhiều doanh nghiệp có lịch sử lâu đời đang tọa lạc trên những khu đất có giá trị thương mại cực kỳ lớn. Do đó, khi Nhà nước yêu cầu di dời vì lợi ích quốc gia và công cộng, cần thiết phải có một chính sách đền bù thỏa đáng, không chỉ giúp doanh nghiệp tái đầu tư, ổn định sản xuất mà còn phải đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người lao động.
“Chỉ khi lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp được đặt trong mối quan hệ hài hòa, tạo được sự đồng thuận tuyệt đối, thì quá trình di dời mới có thể triển khai một cách thuận lợi và bền vững”, ông Tiến khẳng định.
Trước những lo ngại về việc quỹ đất sau di dời có thể bị “hô biến” thành các cao ốc hay khu chung cư, ông Tiến nhấn mạnh rằng việc sử dụng đất phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch đã được phê duyệt. Yếu tố then chốt nằm ở công tác giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện.
Từ góc độ quản lý lao động, KTS Ánh nhận định rằng việc di dời các cơ sở sản xuất một lần nữa là “phép thử” quan trọng đối với năng lực quản trị đô thị và tầm nhìn phát triển. Quá trình này cần phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp sáng tạo, kinh tế tri thức, thay vì tiếp tục duy trì các mô hình sản xuất lạc hậu, gây ô nhiễm.
Tại Kỳ họp thứ 28 diễn ra vào cuối tháng 11, Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã chính thức thông qua Nghị quyết ban hành danh mục các cơ sở phải di dời khỏi khu vực đô thị trung tâm. Quyết định này nhằm đảm bảo sự phù hợp với Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065. Danh mục này bao gồm tổng cộng 57 cơ sở, trong đó có 42 cơ sở sản xuất công nghiệp và 15 trụ sở của các cơ quan, đơn vị.
Trong số 42 cơ sở sản xuất công nghiệp buộc phải di dời, nhiều doanh nghiệp có lịch sử lâu đời và thương hiệu nổi tiếng, như Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Công ty Bia Việt Hà, Công ty Sứ Viglacera Thanh Trì, cùng Cụm công nghiệp Lai Xá, đã được liệt kê.
Về phần các trụ sở cơ quan, đơn vị thuộc diện di dời, có thể kể đến Công ty CP Dây và cáp điện Thượng Đình Cadisun, Công ty CP In khoa học kỹ thuật, Công ty CP Xây lắp và Cơ khí cầu đường, Công ty CP Xây dựng lắp máy điện nước Hà Nội, và Bệnh viện Đa khoa tư nhân Tràng An, v.v.











