Bài báo trình bày chi tiết các vi phạm pháp luật đất đai của công chức trong quá trình thực thi công vụ theo Điều 109. Các hành vi sai phạm chính bao gồm việc thực hiện sai lệch hồ sơ địa giới hành chính, lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đúng quy định. Phạm vi vi phạm còn mở rộng đến các khía cạnh quan trọng như thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cũng như giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất không đúng pháp luật. Thêm vào đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý đất được Nhà nước giao và thực hiện các thủ tục hành chính sai thẩm quyền hoặc chậm trễ cũng là những vi phạm nghiêm trọng. Các cá nhân có hành vi vi phạm này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
Vi phạm pháp luật đất đai trong thực thi công vụ (Điều 109)
1. Vi phạm các quy định liên quan đến hồ sơ và mốc địa giới hành chính:
a) Thực hiện sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, hoặc biên bản bàn giao mốc địa giới đơn vị hành chính;
b) Thiết lập mốc địa giới đơn vị hành chính không đúng vị trí thực tế trên thực địa.
2. Các hành vi vi phạm trong công tác lập, điều chỉnh, phê duyệt và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
a) Chậm trễ hoặc không tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đúng thời hạn quy định;
b) Xây dựng và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trái với nội dung đã được quy định;
c) Không tuân thủ các quy định về việc tổ chức lấy ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
d) Ban hành quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vượt quá thẩm quyền cho phép;
đ) Tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không dựa trên nguyên tắc và căn cứ pháp lý quy định;
e) Không công bố hoặc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trái quy định; thiếu sót trong việc xem xét, đánh giá, điều chỉnh, hủy bỏ, và công bố công khai các quyết định điều chỉnh, hủy bỏ thu hồi đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất đối với những diện tích đất đã được xác định trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện nhưng không thực hiện trong 02 năm liên tục; không báo cáo tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo yêu cầu.
3. Các vi phạm liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Thực hiện thu hồi đất không đúng các trường hợp được quy định tại các điều 78, 79, 81 và 82 của Luật Đất đai;
b) Quyết định thu hồi đất phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà không đảm bảo căn cứ pháp lý và điều kiện theo quy định;
c) Không tiến hành thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo đúng quy định; không tuân thủ trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai;
d) Thực hiện thu hồi đất vượt quá thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng theo quy định;
đ) Chi trả bồi thường, hỗ trợ, hoặc bố trí tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, hoặc mức quy định cho người có đất bị thu hồi; cố ý làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí hoặc diện tích đất bị thu hồi trên thực địa.
e) Áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với quyết định kiểm đếm bắt buộc hoặc quyết định thu hồi đất mà không tuân thủ nguyên tắc, không đủ điều kiện theo quy định; ban hành quyết định cưỡng chế vượt quá thẩm quyền; trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế không đúng quy định hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong quá trình cưỡng chế thu hồi đất.
4. Các vi phạm trong công tác trưng dụng đất:
a) Chi trả bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức, hoặc thời hạn quy định cho người có đất bị trưng dụng;
b) Thực hiện trưng dụng đất không tuân thủ các quy định tại Điều 90 của Luật Đất đai.
5. Vi phạm các quy định về giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất:
a) Thực hiện giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không dựa trên căn cứ pháp lý và các điều kiện quy định;
b) Giao hoặc cho thuê đất đang do tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành quyết định thu hồi đất hoặc chưa hoàn tất việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo pháp luật, ngoại trừ các trường hợp được phép chuyển nhượng dự án bất động sản theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản;
c) Giao hoặc cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đã được xác định trên thực địa;
d) Giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất vượt quá thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng được thụ hưởng;
đ) Thực hiện giao đất, cho thuê đất không tuân thủ các quy định tại các điều 124, 125 và 126 của Luật Đất đai;
e) Cho phép sử dụng đất để triển khai dự án phát triển kinh tế – xã hội thông qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất mà không phù hợp với quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai.
6. Các vi phạm trong công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
a) Không lập đầy đủ hồ sơ địa chính theo quy định; không chỉnh lý, cập nhật kịp thời các biến động khi người sử dụng đất thực hiện thủ tục hành chính về đất đai hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
b) Xác nhận nguồn gốc đất trong quá trình đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không tuân thủ quy định của pháp luật;
c) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng đối tượng, diện tích, vị trí, mục đích, hoặc thời hạn sử dụng đất; hoặc khi không đủ điều kiện để được cấp theo quy định;
d) Tiến hành đính chính, thu hồi, hoặc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp mà không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;
đ) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận thay đổi trong trường hợp đăng ký biến động khi không có đủ thẩm quyền hoặc không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
7. Các vi phạm liên quan đến nghĩa vụ tài chính về đất đai:
a) Tính toán tiền sử dụng đất, tiền thuê đất không dựa trên căn cứ hoặc không đúng thời điểm quy định; thực hiện miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất sai đối tượng.
b) Sử dụng căn cứ hoặc thông tin đầu vào không chính xác để định giá đất, vi phạm quy định của pháp luật;
c) Xác định giá đất cụ thể không đúng thời hạn, nguyên tắc, điều kiện hoặc phương pháp được quy định.
d) Chậm trễ hoặc không ban hành bảng giá đất hằng năm theo đúng thời hạn;
đ) Áp dụng giá đất cụ thể hoặc bảng giá đất không đúng đối tượng theo quy định của pháp luật hiện hành;
e) Ban hành quyết định về giá đất vượt quá thẩm quyền quy định.
8. Các vi phạm trong quản lý đất được Nhà nước giao quản lý:
a) Dung túng hoặc không ngăn chặn việc người được phép sử dụng đất tạm thời nhưng lại sử dụng đất sai mục đích;
b) Trực tiếp sử dụng đất không đúng mục đích đã được quy định;
c) Để đất bị lấn chiếm mà không có biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời;
d) Thực hiện các hành vi cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đất trái với quy định của pháp luật;
đ) Không thực hiện đăng ký vào hồ sơ địa chính hoặc không báo cáo kịp thời lên Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp về tình hình quản lý, khai thác quỹ đất chưa sử dụng tại địa phương.
9. Các vi phạm trong việc thực hiện trình tự, thủ tục hành chính về đất đai:
a) Từ chối tiếp nhận hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ; hoặc tiếp nhận hồ sơ nhưng không ghi chép vào sổ theo dõi;
b) Tự ý ban hành hoặc áp dụng các thủ tục hành chính không có trong quy định;
c) Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự, gây trì hoãn việc bàn giao các loại giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính;
d) Giải quyết thủ tục hành chính chậm trễ so với thời hạn đã được quy định;
đ) Từ chối hoặc không thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật;
e) Thực hiện thủ tục hành chính vượt quá thẩm quyền cho phép;
g) Ban hành quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ trái quy định, gây thiệt hại hoặc tạo cơ hội cho cá nhân, tổ chức gây thiệt hại cho Nhà nước, các tổ chức và công dân;
h) Làm mất mát, hư hại hoặc cố ý làm sai lệch nội dung hồ sơ.
10. Vi phạm liên quan đến thu hồi đất trong các trường hợp quy định tại Điều 81 của Luật Đất đai, bao gồm các hành vi sau:
a) Không gửi thông báo về trường hợp thu hồi đất quy định tại khoản 6 Điều 81 Luật Đất đai đến cơ quan quản lý đất đai để hoàn tất thủ tục trình cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất theo quy định;
b) Không trình hoặc không ban hành quyết định thu hồi đất đối với trường hợp được quy định tại khoản 6 Điều 81 Luật Đất đai sau khi đã nhận được thông báo từ cơ quan thuế;
c) Không trình hoặc không ban hành quyết định thu hồi đất trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản từ cơ quan có trách nhiệm theo dõi thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, liên quan đến việc người sử dụng đất tiếp tục vi phạm trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các khoản 1, 2 và 7 Điều 81 Luật Đất đai;
d) Không trình hoặc không ban hành quyết định thu hồi đất dựa trên kết luận của cơ quan có thẩm quyền đối với các trường hợp thu hồi đất quy định tại các khoản 3, 4, 5 và 8 Điều 81 Luật Đất đai.
11. Các hành vi vi phạm khác trong quản lý đất đai:
a) Thiếu sót trong việc ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng;
b) Không thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về đất đai;
c) Áp dụng chính sách phân biệt đối xử về giới tính trong hoạt động quản lý và sử dụng đất đai;
d) Gây cản trở, khó khăn cho người sử dụng đất trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;
đ) Từ chối cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác, trái với quy định pháp luật;
e) Thiếu sót trong việc báo cáo hoặc báo cáo không kịp thời về công tác quản lý đất đai theo quy định;
g) Lạm dụng hoặc sử dụng quỹ phát triển đất sai mục đích đã được phê duyệt;
h) Xâm phạm chính sách hỗ trợ về đất đai dành cho đồng bào dân tộc thiểu số.
12. Việc xử lý các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai khi thực thi công vụ, như quy định tại Điều này, sẽ được tiến hành theo các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan.











