Đồng bằng sông Hồng đang đối mặt với những tác động rõ rệt và nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, biểu hiện qua sạt lở, xâm nhập mặn, lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường và đặc biệt là đe dọa an ninh nguồn nước. Các hiện tượng cực đoan này không chỉ gây tổn thất kinh tế, ảnh hưởng sản xuất, chuỗi logistics, du lịch mà còn tạo áp lực lớn lên hạ tầng, môi trường sinh thái và đời sống của người dân.
Để ứng phó, các chuyên gia đề xuất nhiều giải pháp cấp bách như tăng cường quản lý tài nguyên nước, chuyển đổi mô hình nông nghiệp thích ứng BĐKH, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hạ tầng bền vững. Đồng thời, việc kiểm soát toàn diện ô nhiễm môi trường và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý vùng đặc thù, tăng cường hợp tác liên vùng, liên ngành là yếu tố then chốt để thích ứng hiệu quả và phát triển bền vững.
Đồng bằng sông Hồng: Thách thức biến đổi khí hậu và lộ trình thích ứng cấp bách
PGS.TS Đỗ Hậu, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, khẳng định rằng những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Đồng bằng sông Hồng đã biểu hiện ngày càng rõ nét. Các rủi ro thiên tai phát sinh từ BĐKH tập trung vào năm vấn đề cốt yếu: sạt lở đất, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm môi trường và hạn hán.

Vùng Đồng bằng sông Hồng đối mặt nhiều rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu.
“Thực tiễn cho thấy, hàng loạt đợt bão lũ trong thời gian qua đã gây ra những tác động đáng kể đến hệ thống sông ngòi và sinh kế của cư dân trong vùng. Các lưu vực lớn như sông Hồng và sông Thái Bình đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hiện tượng thời tiết cực đoan. Những rủi ro này không chỉ gây tổn thất kinh tế mà còn tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng, môi trường sinh thái và đời sống của người dân trong khu vực”, PGS.TS.KTS Đỗ Hậu chia sẻ.
Đồng tình với quan điểm trên, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng), nhấn mạnh rằng BĐKH đang trở thành rủi ro phát triển hiện hữu của vùng Đồng bằng sông Hồng. Các hiện tượng như mưa lớn cực đoan, bão mạnh, ngập úng đô thị, nước biển dâng và xâm nhập mặn không chỉ gây hại môi trường, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, chuỗi logistics, du lịch và môi trường đầu tư.
“Đối với các địa phương ven biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, các thách thức về bão, nước biển dâng và gián đoạn chuỗi logistics đòi hỏi những giải pháp thích ứng liên vùng, mang tầm nhìn dài hạn và sự đồng bộ trong triển khai”, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương nhận định.
Về tác động của BĐKH đến an ninh nguồn nước, PGS.TS Phạm Thị Ngọc Lan (Trường Đại học Thủy lợi) đưa ra quan điểm rằng BĐKH là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước tại vùng Đồng bằng sông Hồng. Các tác động chính bao gồm: gia tăng xâm nhập mặn do nước biển dâng; biến đổi chế độ dòng chảy sông; tăng tần suất và cường độ hạn hán; cùng với nguy cơ lũ lụt ngày càng cao.
“Những tác động này làm suy giảm tính ổn định và khả năng dự báo của nguồn nước. Đặc biệt trong mùa khô, lượng nước ngọt suy giảm đáng kể, trong khi nhu cầu sử dụng nước vẫn ở mức cao. Điều này tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu nước, dẫn đến tình trạng mất an ninh nguồn nước cấp thiết”, PGS.TS Phạm Thị Ngọc Lan phân tích.
Thêm vào đó, BĐKH còn tác động tiêu cực đến khả năng bổ cập nước ngầm, làm giảm trữ lượng nước ngầm và tăng nguy cơ xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước. “Xâm nhập mặn được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh nguồn nước tại các khu vực ven biển thuộc Đồng bằng sông Hồng”, bà Lan khẳng định.

Các rủi ro thiên tai vùng Đồng bằng sông Hồng chủ yếu tập trung vào sạt lở đất, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm môi trường và hạn hán.
Quy hoạch đô thị và chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu: Tầm nhìn tích hợp
Đề xuất các giải pháp ứng phó BĐKH và bảo vệ môi trường tại vùng Đồng bằng sông Hồng, PGS.TS.KTS Đỗ Hậu cho rằng cần tập trung triển khai một số nội dung chiến lược then chốt.
Trước tiên, cần tăng cường quản lý tài nguyên nước đồng bộ với công tác phòng chống thiên tai. Điều này bao gồm việc nâng cấp hệ thống đê điều, cải tạo các hồ chứa nước để tối ưu hóa khả năng điều tiết và phòng chống lũ, cũng như xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm giảm thiểu rủi ro cho cộng đồng.
Việc quy hoạch các vùng thoát lũ và khu vực chứa nước tự nhiên cũng có vai trò thiết yếu trong việc điều hòa dòng chảy và giảm áp lực cho hệ thống đê điều.
“Việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác nước ngầm là vô cùng cần thiết để đảm bảo cân bằng nguồn nước và hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường”, PGS.TS.KTS Đỗ Hậu đề xuất.
Một trong những giải pháp quan trọng khác được PGS.TS.KTS Đỗ Hậu nhấn mạnh là chuyển đổi mô hình nông nghiệp theo hướng thích ứng với BĐKH. Theo đó, cần ưu tiên lựa chọn các giống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu và đặc điểm sinh thái khu vực; đồng thời áp dụng các mô hình nông nghiệp thông minh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro từ thời tiết cực đoan. Công tác giảm phát thải khí nhà kính cũng cần được chú trọng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững quốc gia.
Ông Hậu đặc biệt coi trọng giải pháp bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hạ tầng bền vững. Theo ông, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược thích ứng BĐKH.
Cụ thể, cần tập trung phục hồi các hệ sinh thái rừng ngập mặn và khôi phục các hệ sinh thái đất ngập nước trong khu vực. Những hệ sinh thái này không chỉ có vai trò bảo vệ môi trường mà còn góp phần giảm nhẹ tác động của thiên tai và duy trì cân bằng sinh thái lâu dài.
Trong lĩnh vực phát triển đô thị, PGS.TS.KTS Đỗ Hậu nhấn mạnh sự cần thiết của quy hoạch và phát triển hạ tầng theo hướng bền vững; tích hợp các yếu tố phòng chống rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH vào toàn bộ quá trình lập quy hoạch đô thị.
Cùng với đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển hệ thống thoát nước đô thị nhằm giảm thiểu nguy cơ ngập úng, tăng cường diện tích cây xanh để cải thiện chất lượng môi trường sống; phát triển mạnh mẽ hệ thống giao thông công cộng và khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng sạch…

Vùng Đồng bằng sông Hồng cần quản lý tài nguyên nước hiệu quả.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý vùng chiến lược
Một giải pháp trọng yếu khác được PGS.TS.KTS Đỗ Hậu đề cập là kiểm soát toàn diện ô nhiễm môi trường tại khu vực Đồng bằng sông Hồng. Theo đó, cần đẩy mạnh xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt; kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm từ làng nghề; đồng thời tăng cường phân loại và xử lý rác thải để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
“Đặc biệt, việc xây dựng cơ chế, chính sách quản lý vùng đặc thù cho Đồng bằng sông Hồng là vô cùng cấp thiết. Điều này nhằm tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương trong vùng để kiểm soát ô nhiễm môi trường và chủ động ứng phó hiệu quả với thiên tai”, ông Hậu nhấn mạnh.
Cùng với đó, việc huy động các nguồn lực tài chính đa dạng cho công tác thích ứng với BĐKH cũng cần được tăng cường mạnh mẽ. Trong đó, cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai các giải pháp.
Tương tự, PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương cũng đề cao tầm quan trọng của hợp tác liên vùng: “Việc ứng phó với BĐKH không thể được thực hiện một cách riêng lẻ theo từng địa phương, mà đòi hỏi cách tiếp cận liên vùng, liên ngành, dựa trên quản lý lưu vực, quy hoạch tích hợp và tầm nhìn phát triển dài hạn. Điều này càng làm nổi bật vai trò then chốt của cải cách thể chế và cơ chế phối hợp vùng hiệu quả”.
“Để nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh mới, bên cạnh việc đẩy mạnh cải cách hành chính thực chất, tăng cường liên kết vùng và liên ngành, đầu tư vào nguồn nhân lực quản lý, đặc biệt ở cấp cơ sở – cấp xã…, cần phải gắn chặt tăng trưởng kinh tế với chuyển đổi xanh và khả năng thích ứng với BĐKH”, ông Phương nhấn mạnh.
“Trong giai đoạn tới, cần tập trung hoàn thiện cơ chế điều phối vùng, đẩy mạnh phân cấp gắn liền với trách nhiệm giải trình minh bạch, số hóa công tác quản lý, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở và tích hợp phát triển bền vững vào mọi quyết sách”, ông Phương bổ sung.
Về giải pháp tăng cường đảm bảo an ninh nguồn nước, PGS.TS Phạm Thị Ngọc Lan khẳng định, quản lý tài nguyên nước tổng hợp là yếu tố then chốt để cân bằng nhu cầu sử dụng và đảm bảo tính bền vững của nguồn nước.
Quản lý tài nguyên nước hiệu quả sẽ giúp đảm bảo nguồn nước ổn định; giảm thiểu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn; bảo vệ chất lượng nguồn nước; và tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH.
“Việc áp dụng các phương pháp quản lý tài nguyên nước tổng hợp, thích ứng BĐKH và quản lý bền vững nước ngầm là cần thiết mang tính chiến lược nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững cho tương lai”, PGS.TS Phạm Thị Ngọc Lan nhấn mạnh.










