Bài báo phản ánh những vướng mắc của người dân khi làm hồ sơ mua nhà ở xã hội, nổi bật là khó khăn trong xác nhận thu nhập bình quân 12 tháng liên tục cho người lao động thay đổi công việc. Bộ Xây dựng giải đáp rằng điều kiện thu nhập được tính dựa trên mức thực tế trong 12 tháng liên tục, với các mức trần cụ thể cho từng đối tượng. Đáng chú ý, Bộ khẳng định không có quy định nào yêu cầu người mua nhà ở xã hội phải tham gia bảo hiểm xã hội. Về việc xác định đối tượng, Bộ hướng dẫn căn cứ Luật Nhà ở 2023, với việc xác nhận thu nhập và đối tượng do doanh nghiệp hoặc công an cấp xã thực hiện tùy trường hợp.
“`html
Thách thức và hướng dẫn xác nhận thu nhập mua nhà ở xã hội cho người lao động luân chuyển công việc
Trường hợp điển hình được gửi tới Bộ Xây dựng, bà Lê Thị Vân Anh (TP.HCM) phản ánh những vướng mắc trong quá trình xác nhận thu nhập khi làm hồ sơ mua nhà ở xã hội. Cụ thể, do bà đã thay đổi công việc từ tháng 12/2025, cả đơn vị cũ và đơn vị hiện tại đều không thể cung cấp xác nhận thu nhập bình quân cho 12 tháng liên tục. Dù đã sở hữu đầy đủ hợp đồng lao động và sao kê ngân hàng làm bằng chứng, bà Vân Anh vẫn chưa rõ cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm xác nhận thu nhập để hoàn tất thủ tục.

Dự án nhà ở xã hội Rice City Linh Đàm, Hà Nội. (Ảnh minh họa).
Tương tự, ông Nguyễn Minh Tùng (Hà Nội) cũng đối mặt với thách thức tương tự do đã làm việc tại bốn doanh nghiệp khác nhau trong năm 2025. Đơn vị hiện tại của ông Tùng chỉ đồng ý xác nhận phần thu nhập mà họ đã chi trả, từ chối tổng hợp xác nhận thu nhập cho toàn bộ 12 tháng vì thiếu cơ sở kiểm chứng từ các đơn vị làm việc trước đó.
Mặc dù đã có trong tay đầy đủ giấy xác nhận thu nhập và bảng lương từ cả bốn doanh nghiệp, ông Tùng vẫn băn khoăn về yêu cầu pháp lý: liệu hồ sơ có bắt buộc phải được một đơn vị xác nhận toàn bộ thu nhập, hay có thể nộp nhiều giấy xác nhận từ các nơi đã làm việc?
Giải đáp những vướng mắc trên, Bộ Xây dựng thông tin rằng, căn cứ Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 54/2026/NĐ-CP và Nghị định số 136/2026/NĐ-CP), điều kiện về thu nhập để đủ điều kiện mua nhà ở xã hội được xác định dựa trên mức thu nhập bình quân thực tế nhận được trong 12 tháng liên tục, tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác nhận.
Theo các quy định hiện hành, cá nhân độc thân cần có thu nhập bình quân không vượt quá 25 triệu đồng/tháng. Đối với trường hợp độc thân có nuôi con chưa thành niên, mức thu nhập tối đa là 35 triệu đồng/tháng. Trong trường hợp đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân của hai vợ chồng không được vượt quá 50 triệu đồng/tháng.
Việc xác định điều kiện thu nhập, như đã nêu tại điểm a và điểm b khoản này, được tính trong khoảng thời gian 12 tháng liên kề, kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
Khoản 5 Điều 42 Nghị định số 54/2026/NĐ-CP cũng quy định rằng, các giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trước khi nghị định có hiệu lực sẽ tiếp tục có giá trị sử dụng trong 12 tháng kể từ ngày xác nhận.
Đối với các trường hợp người lao động thay đổi nơi làm việc trong giai đoạn cần xác định thu nhập, Bộ Xây dựng khuyến nghị công dân căn cứ trực tiếp vào các quy định pháp luật hiện hành để tiến hành việc xác nhận thu nhập theo đúng thể thức và trình tự đã ban hành.
Không yêu cầu tham gia bảo hiểm xã hội khi mua nhà ở xã hội
Ông Vũ Văn Tuấn (Thanh Hóa) nêu trường hợp cá nhân ông hiện là công nhân tại khu công nghiệp, có tham gia bảo hiểm xã hội và đạt các tiêu chí về thu nhập để mua nhà ở xã hội. Tuy nhiên, vợ ông, dù có công việc và thu nhập ổn định được doanh nghiệp xác nhận, lại chưa tham gia bảo hiểm xã hội.
Với thực trạng cả hai vợ chồng chưa sở hữu nhà ở, ông Tuấn bày tỏ băn khoăn liệu việc vợ chưa tham gia bảo hiểm xã hội có ảnh hưởng đến điều kiện đồng đứng tên hồ sơ mua nhà ở xã hội hay không, đồng thời mong muốn được hướng dẫn chi tiết về các loại giấy tờ cần bổ sung.
Thực tế cho thấy, vướng mắc liên quan đến việc vợ hoặc chồng chưa tham gia bảo hiểm xã hội có đủ điều kiện mua nhà ở xã hội hay không là một trong những câu hỏi được đông đảo người dân quan tâm và phản ánh.
Về vấn đề này, Bộ Xây dựng đã khẳng định rõ: Pháp luật về nhà ở quy định điều kiện để được mua, thuê mua nhà ở xã hội bao gồm việc thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhà ở và thu nhập. Không có quy định nào yêu cầu về việc tham gia bảo hiểm xã hội.
Theo đó, điều kiện cốt lõi là người đăng ký phải thuộc nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, đồng thời phải đáp ứng các tiêu chí về nhà ở và thu nhập theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP.

Nhà ở xã hội là giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho người lao động và đối tượng thu nhập thấp.
Các loại giấy tờ cần thiết để chứng minh đối tượng và điều kiện thụ hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội đã được quy định chi tiết tại Phụ lục I của Thông tư số 05/2024/TTBXD ngày 31/7/2024 của Bộ Xây dựng, và đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 cùng Thông tư số 08/2026/TT-BXD ngày 15/02/2026.
Hướng dẫn xác định nhóm đối tượng khi lập hồ sơ mua nhà ở xã hội
Ông Phạm Hiếu (Bắc Ninh), hiện là người độc thân, có hợp đồng lao động với doanh nghiệp và thu nhập khoảng 8 triệu đồng/tháng, đã bày tỏ thắc mắc trong quá trình tìm hiểu đăng ký mua nhà ở xã hội. Cụ thể, ông Hiếu chưa xác định được mình thuộc nhóm đối tượng người thu nhập thấp tại khu vực đô thị hay người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp theo quy định của Luật Nhà ở. Ông cũng nhận định đây là vướng mắc chung của nhiều người lao động và đề nghị Bộ Xây dựng cung cấp hướng dẫn chi tiết để đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ.
Hồi đáp vấn đề này, Bộ Xây dựng viện dẫn Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023, trong đó quy định 12 nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Đáng chú ý, nhóm người thu nhập thấp tại khu vực đô thị được xác định dựa trên mức thu nhập theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP.
Đối với các cá nhân có hợp đồng lao động, việc xác nhận đối tượng và thu nhập sẽ do cơ quan, đơn vị hoặc doanh nghiệp nơi họ đang làm việc thực hiện theo mẫu đã được quy định.
Trong trường hợp không có hợp đồng lao động, việc xác nhận điều kiện thu nhập sẽ được thực hiện bởi Công an cấp xã nơi cá nhân thường trú, tạm trú hoặc nơi cư trú hiện tại, tuân thủ các quy định hiện hành.
“`











